Trang chủ / Điểm tham quan / Nhà Tư lệnh Trần Văn Trà

Nhà Tư lệnh Trần Văn Trà
Điểm tham quan số 12
Nhà làm việc của đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Miền.
Đây là nơi ở và làm việc của đồng chí Trần Văn Trà nguyên Tư lệnh các LLVTGPMNVN từ tháng 2/1973 đến tháng 4/1975. Ngôi nhà được xây dựng theo mô hình nhà sàn của người Khơme. Ngôi nhà có chiều dài 9,5m, rộng 9 m, tổng diện tích 85 m vuông, mái nhà lợp bằng lá trung quân, bên trên nhà sàn là nơi ở và làm việc của Thựơng tướng, bên dưới là hệ thống hầm trú ẩn và giao thông hào thoát hiểm cắt vào trong căn cứ. Nói đến khu vực này chúng ta không thể không nhắc đến yếu tố "lòng dân", vì xưa kia trên mảnh đất này là một sóc nhỏ của đồng bào dân tộc Khơme gọi là sóc Krom có trên dưới 10 ngôi nhà sàn, đồng chí Tư lệnh đã làm nhà ra đây ở để ngụy trang và hưởng không khí trong lành, ngoài giờ thảnh thơi đồng chí còn trồng cây ăn trái, trồng rau, thả cá…lúc ấy đồng bào ở đây gọi rừng căn cứ là rừng Chính phủ. Qua cách gọi đó ta có thể thấy được chứng tỏ đồng bào đã ý thức được đây chính là cơ quan đầu não kháng chiến của miền Nam nhưng vẫn giữ được yếu tố bí mật cho tới ngày giải phóng.
Đồng chí Thượng tướng Trần Văn Trà (tức Nguyễn Chấn) sinh năm 1919 tại xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Năm 1936 khi còn học trường Kỹ nghệ Huế, đồng chí đã tham gia phong trào yêu nước. Tháng 8/1936 là đảng viên Dảng cộng sản Dông Dương. Cách mạng tháng Tám năm 1945 đồng chí là Ủy viên kỳ bộ Việt Minh.
Từ 1955 – 1962 đồng chí giữ chức vụ Phó tổng Tham mưu trường Quân đội nhân dân Việt Nam, kiêm Giám đốc học Viện Quân chính và Chánh tòa án Quân sự Trung ương.
Năm 1963 đồng chí là Tư lệnh quân giải phóng miền Nam, Ủy viên Trung ương Cục, Phó bí thư Quân ủy miền.
Năm 1973 đồng chí là Trưởng đoàn Quân sự Chính Phủ cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Năm 1975 là Phó Tư lệnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, đồng chí đã góp phần cùng Bộ tư lệnh Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Trung ương Cục và Quân ủy miền, lãnh đạo quân và dân miền Nam giành thắng lợi, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày giải phóng miền Nam, đồng chí là Chủ tịch Ủy ban Quân quản Thành phố Sài Gòn – Gia Định. Sau đó là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7.
Năm 1978 đồng chí là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Đồng chí là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa III (1960) và Ủy viên trung ương Đảng khóa IV (1976). Đại biểu Quốc Hội khóa VI. Đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng năm 1959, Thượng tướng năm 1974.
Năm 1992, đồng chí được bầu làm Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam kiêm Chủ tịch Hội cựu chiến binh Thành Phố Hồ Chí Minh. Do những cống hiến sâu sắc, đồng chí đã được Đảng, Quốc hội và Nhà nước tặng thưởng 2 huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương cao quý khác. Đồng chí mất 20/4/1996.